Liên bang Đông Dương

Chủ đề thuộc danh mục 'Tư liệu tham khảo' được đăng bởi youngboss1vn, 4/4/10.

  1. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    (Sưu Tầm tin tức)
    Liên bang Đông Dương (tiếng Pháp: Union Indochinoise), đôi khi gọi là Đông Dương thuộc Pháp (Indochine française) hoặc Đông Pháp, là lãnh thổ nằm dưới quyền cai trị của thực dân Pháp nằm ở khu vực Đông Nam Á. Liên bang này bao gồm sáu xứ: Nam Kỳ (Cochinchine), Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Lào (Laos), Campuchia (Cambodge), và Quảng Châu Loan (Kouang-Tchéou-Wan). Về mặt địa lý, tên gọi Đông Dương còn có thể bao gồm cả Thái Lan, Miến Điện và bán đảo Mã Lai.

    Liên bang Đông Dương được thành lập vào ngày 17 tháng 10 năm 1887; Lào gia nhập vào năm 1893 và thêm Quảng Châu Loan năm 1900. Liên bang Đông Dương tồn tại cho đến năm 1954, thủ phủ đặt tại Sài Gòn (1887-1901) sau chuyển ra Hà Nội (1902-54). Đứng đầu liên bang là một Toàn quyền (Gouverneur Général de l'Indochine française từ 1887 đến 1945) hay một Cao ủy (từ 1945 đến 1954) của chính phủ nước bảo hộ Pháp. Một số chính quyền địa phương đặt dưới quyền các ông vua địa phương mà thực chất là bù nhìn, vì quyền lực vẫn nằm trong tay các quan chức thực dân Pháp.

    Liên bang Đông Dương bị Nhật Bản lật đổ vào ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc. Tuy nhiên, quân Nhật lại thua quân Đồng Minh và liên bang này chỉ thực sự tan rã sau thất bại tại trận Điện Biên Phủ của Pháp và Hiệp ước Genève được ký kết năm 1954.
     
    Last edited: 28/4/10
  2. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Hành chính
    Bản đồ Liên bang Đông Dương
    [​IMG]

    Liên bang Đông Dương được đặt dưới quyền của hai cơ quan ở chính quốc Pháp. Nam Kỳ, Cao Miên và Lào phụ thuộc Bộ Thuộc địa Pháp trong khi Trung và Bắc Kỳ phụ thuộc Bộ Ngoại giao Pháp.[1] Dưới thời Toàn quyền Doumer việc cai trị mới được gộp lại trực thuộc Bộ Thuộc địa.
     
  3. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Cấp liên bang

    Toàn quyền Maurice Long, tại chức 1920-1922.
    [​IMG]

    Đứng đầu liên bang Đông Pháp là viên Toàn quyền và Tổng Bí thư, tức Phó Toàn quyền. Sau năm 1945 chức vụ Toàn quyền Đông Dương đổi thành Cao ủy Pháp tại Đông Dương (Hauts commissaires de France en Indochine) và đến năm 1953 thì gọi là Tổng ủy (Commissaires généraux).

    Toàn quyền được giao quyền lực rất lớn, là người đứng đầu về hành chính và quân sự và được hỗ trợ bởi một Hội đồng Tối cao (Conseil supérieur), gồm có Toàn quyền (đứng làm chủ tịch), tổng tư lệnh quân đội, một thiếu tướng hải quân chỉ huy hạm đội Viễn Đông, Thống đốc Nam Kỳ, Thống sứ của các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Campuchia; chủ tịch Đại hội đồng Kinh tế Tài chính, và nhiều người khác, kể cả bốn người bản xứ đặc bổ.

    Hội đồng này họp hai năm một lần, một tại Hà Nội và một tại Sài Gòn, để ban hành các đạo luật và tính toán ngân sách chung và riêng của từng xứ.

    Những tòa án địa phương ở khắp liên bang chịu trách nhiệm duy trì trật tự công lý, các bản kháng án sẽ được chuyển lên tòa thượng thẩm đặt tại Hà Nội và Sài Gòn. Trong các vụ kháng án, các quan tòa người Âu được sự hỗ trợ từ quan lại người Việt. Do đó, về nguyên tắc, Liên bang này hoàn toàn theo chế độ tòa án của Pháp.

    Mười một bộ ở cấp liên bang được gọi là nha môn (services généraux).
    Thứ tự Nha môn Chủ sự
    1 Tài chính Giám đốc
    2 Học chính Giám đốc
    3 Tư pháp Giám đốc
    4 Công chính Tổng Thanh tra
    5 Công khoáng Tổng Thanh tra
    6 Y tế Tổng Thanh tra
    7 Nông lâm Tổng Thanh tra
    8 Bưu chính Giám đốc
    9 Công an Giám đốc
    10 Quân sự Tổng Tư lệnh
    11 Hải quân Tư lệnh

    Cấp liên bang còn có hai nghị hội: "Hội đồng Chính phủ" (Conseil de Gouvernement de l'Indochine) và "Đại Hội đồng Kinh tế Tài chính" (Grand Conseil des Intérêts économiques et Financiers de I’Indochine), thành lập năm 1928. Hội đồng Kinh tế có 51 thành viên: 28 người Pháp và 23 đại biểu của ba xứ Việt, Miên, Lào.[2] Hai hội đồng này chủ yếu là cơ quan tư vấn và thảo nghị chứ không phải là viện lập pháp.[3]

    Ngoài quyền đại diện liên lạc với chính quốc, ứng xử ngoại giao và điều hành quân đội, chính quyền Liên bang còn có toàn quyền tài chính. Triều đình Huế nhận "lãnh lương" từ chính phủ Bảo hộ.[4]
     
  4. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Cấp địa phương thuộc địa

    Trong sáu xứ thuộc Liên bang Đông Dương thì riêng Nam Kỳ là trực thuộc cai trị của Pháp dưới chế độ thuộc địa. Đứng đầu Nam Kỳ là Thống đốc (gouverneur), có "Hội đồng Tư mật" và Hội đồng Thuộc địa là hai nghị hội.

    Ở cấp nhỏ hơn thì có Chánh Tham biện (administrateur) đứng đầu mỗi địa hạt (arrondissement), sau đổi thành Tỉnh trưởng (chef de province) và tỉnh (province). Dưới tỉnh là délégation (cấp huyện) có viên tri phủ rồi canton (tổng) với cai tổng quản lý.

    Dân Nam Kỳ hưởng quy chế "thuộc dân Pháp" (sujets français) và được hưởng quyền lợi nhiều hơn các xứ khác. Muốn vào Pháp tịch để bình đẳng như dân mẫu quốc thì phải nộp đơn để thành citoyens français.[5] Nam Kỳ cũng là xứ có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Người có Pháp tịch hoặc hội đủ một số điều kiện tài chánh mới có quyền đi bầu.
     
  5. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Cấp địa phương bảo hộ

    Bốn xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Miên thuộc chế độ bảo hộ, tức hệ thống hành chánh bản xứ được duy trì và người Pháp cai trị gián tiếp qua ngạch quan lại Việt (ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ), Miên hoặc Lào. Vì lẽ đó mà có hai hệ thống song hành, một của Pháp, một của bản xứ, trên pháp lý là bình quyền cùng giám sát quốc sự, nhưng khi thi hành thì chế độ bản xứ tùy thuộc vào quyền phán quyết của người Pháp. Bộ Ngoại giao Pháp đảm nhiệm việc hành chánh nhưng sang đầu thế kỷ 20 thì giao lại cho Bộ Thuộc địa Pháp, phản ảnh quan điểm và chính sách của Pháp đối với các xứ bảo hộ. Dân cư của các xứ Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Lào và Miên trên mặt pháp lý thuộc hạng protéges français, thấp nhất trong ba hạng citoyens, sujets, và protéges ở Đông Dương.

    Đứng đầu nền bảo hộ Bắc Kỳ là Thống sứ người Pháp (Résidents supérieurs) (1889-1955) cùng ba nghị hội "Hội đồng Bảo hộ", "Hội đồng Pháp nhân" (đại diện người Pháp), và "Viện Dân biểu Bắc Kỳ" (đại diện người Việt). Viên thống sứ tuy là người Pháp nhưng kể từ ngày 26 Tháng Bảy năm 1897[6] kiêm cả chức đại diện cho Nam triều, tức là kinh lược sứ của vua nhà Nguyễn. Các quan lại bản xứ trên danh nghĩa là quan của triều đình Huế nhưng đều trực thuộc quyền viên thống sứ. [7]Chủ quyền của triều đình Huế ở Bắc Kỳ từ đó càng bị thu hẹp. Trước năm 1889, khâm sứ Trung Kỳ đại diện cho cả hai xứ Bắc và Trung Kỳ.[8]

    Kể từ năm 1900 Thống sứ Bắc Kỳ kiêm luôn chức quản trị Quảng Châu Loan tuy đây là một nhượng địa riêng với hạn kỳ 99 năm.

    Đứng đầu nền bảo hộ Trung Kỳ là Khâm sứ người Pháp. Chức vụ này từ năm 1884 đến 1889 có tên là Résidents généraux d'Annam. Sau năm 1889 thì đổi thành Résidents supérieurs (1889-1953). Khâm sứ Trung Kỳ có đặc quyền chủ tọa Hội đồng Cơ mật. Ngoài ra Triều đình Huế kể từ Tháng Chín 1897 phải chịu cho một viên hội lý người Pháp làm quản sự cho mỗi vị thượng thư trong Lục bộ cũ.[9]

    Hiệp sức với viên Khâm sứ là "Hội đồng Bảo hộ" và "Hội đồng Pháp nhân" (đại diện người Pháp). Trung Kỳ cũng có "Viện Dân biểu" thành lập năm 1926[10] nhưng cơ quan này kể từ năm 1932 không thuộc chính phủ bảo hộ nữa mà thuộc triều đình Huế kiểm soát. Trước năm 1932 Viện Dân biểu trực thuộc viên Khâm sứ Pháp.

    Thống sứ Bắc Kỳ hay Khâm sứ Trung Kỳ là hai cách gọi khác nhau của người Việt nhưng chức vị và quyền hành trong chính phủ Bảo hộ thì giống nhau. Tiếng Pháp gọi chức vụ này là résident supérieur, đúng ra dịch sát nghĩa là "lưu trú quan đại thần".

    Ở Lào và Miên cũng có khâm sứ như Trung Kỳ.

    Ở cấp tỉnh thì ở mỗi tỉnh có công sứ (résident) người Pháp trong khi người Việt thì có tổng đốc, tuần phủ hay quản đạo tùy theo tỉnh lớn hay nhỏ ở Bắc hay Trung Kỳ. Dinh công sứ không nhất thiết đặt ở tỉnh lỵ như tỉnh Bắc Ninh thì công sứ đặt hành sở ở Gia Lâm. Bắc Kỳ và Trung Kỳ ở cấp phủ huyện, người Pháp còn đặt một số đại lý (délégués) giám sát việc cai trị. Như tỉnh Ninh Bình thì dinh công sứ đặt ở Phát Diệm và một đại lý nữa ở Phủ Nho Quan.[11] Viên công sứ nắm quyền thuế vụ.

    Ở Cao Miên thì khet (tương đương với "tỉnh") thì có chau-faikhet. ở Lào không có cấp tỉnh mà chỉ có cấp tương đương với huyện (tiếng Pháp: préfecture) gọi là muong, có chao-muong đứng đầu.
     
  6. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Cấp địa phương nhượng địa
    Phố Paul Bert, Hải Phòng.
    [​IMG]

    Đạo dụ 1 Tháng Mười năm 1888 triều Đồng Khánh (Toàn quyền Richaud) cắt thêm ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng (người Pháp gọi là Tourane) làm nhượng địa (concession) cho Pháp, tức là cùng thể chế trực trị như Nam Kỳ tuy nằm trong lãnh thổ bảo hộ bản xứ.[12]

    Đứng đầu mỗi nhượng địa là viên Đốc lý (résident-maire) người Pháp cùng Hội đồng Thị xã (đúng ra là Ủy ban thị xã tức commission municipale) gồm cả người Pháp lẫn người Việt. [13] Hội đồng thị xã Sài Gòn được lập năm 1877; Hà Nội và Hải Phòng năm 1891; và Đà Nẵng năm 1908.[14]
     
  7. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Phân chia địa chính
    Bản đồ địa giới Bắc Kỳ năm 1879 bao gồm cả thị trấn Đông Hưng và mũi Bạch Long, đến năm 1887 bị Pháp cắt cho nhà Thanh
    [​IMG]

    Dưới sự cai trị của Pháp, địa giới các xứ Đông Dương được phân định lại. Công ước Pháp-Thanh 1887 lấy đông kinh tuyến 105º43’ làm giới hạn bên bờ Vịnh Bắc Việt nên một dải đất Trường Bình, Bạch Long ở phía bắc sông Bắc Luân thuộc tổng Vạn Ninh bị nhượng cho nhà Thanh.[15] Việc đóng mốc phân định biên giới hoàn thành năm 1896. Vì sự chia cắt đó đến năm 2000 vẫn có 22.000 người Kinh là hậu duệ người Việt cũ ở đất Quảng Tây.

    Ngược lại đất Lai Châu xưa là phên giậu biên thùy, triều cống Lão Qua, triều đình Huế và cả Vọng Các thì được sáp nhập vào Bắc Kỳ. Đất Trấn Ninh và Sầm Châu mặc dù có quan Việt cai quản thì người Pháp lại cắt cho Lào kể từ năm 1895 và 1903.

    Vùng Cao nguyên Ban Mê Thuột, Kontum người Pháp cũng cho phụ thuộc Lào đến năm 1905 mới thuộc Trung Kỳ.

    Năm 1906 Xiêm trả lại hai tỉnh Battambang và Xiêm Riệp để nhập vào Cao Miên.

    Năm 1916 vì bất ổn ở vùng biên giới Việt-Hoa, chính quyền Bảo hộ cho lập năm quân khu để kiểm soát vùng cực bắc xứ Bắc Kỳ và Lào.[16]

    Từ thập niên 1890 chính quyền Bảo hộ nhân danh triều đình Huế đã có dự định dựng ngọn hải đăng để khẳng định chủ quyền của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa nhưng đồ án không thực hiện được và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo này.[17] Dù vậy khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm Hoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối.[18] Cuộc tranh chấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương và vẫn chưa kết thúc.
     
  8. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Kinh tế
    Tiền giấy mệnh giá 1 đồng bạc Đông Dương.
    [​IMG]

    Tem Đông Pháp.
    [​IMG]

    Kinh tế Đông Pháp chủ yếu là một nền kinh tế thuộc địa để hỗ trợ cho kinh tế Pháp chứ không có kế hoạch tự túc hoặc phát triển theo khả năng bản xứ. Toàn quyền Pasquier đã khẳng định: "Il faut que les profits de l'Indochine reviennent aux Français" ("Lợi nhuận từ Đông Dương phải trao lại cho nước Pháp"). Đông Pháp là nguồn nguyên liệu và vật liệu bán chế trong khi mẫu quốc Pháp cung ứng những sản phẩm chế biến để bán lại sang Đông Pháp.

    Về mặt nông lâm, cơ chế đồn điền nhất là đồn điền cao su để cung cấp cho thị trường Âu Mỹ là một điển hình cho mối tương quan giữa Pháp và Đông Pháp. Cây cao su Hevea brasiliensis đầu tiên đem từ Mã Lai sang trồng ở Đông Dương là vào năm 1897 ở Sài Gòn. Đến năm 1905 thì cạo mủ thấy sản xuất được nên bắt đầu phát động đem trồng nhiều nơi.[19] Nhiều công ty lớn của Pháp như hãng Michelin đều đầu tư vào ngành này, sở hữu những đồn điền với diện tích rộng lớn, tổng cộng chiếm hơn 138.000 hecta trên toàn Đông Dương[20]. Tính đến năm 1926 thì diện tích trồng cao su là hơn 166.000 ha với 13 triệu cây cao su.[21] Số lượng nhân công cần để khai thác nguồn lợi này cũng đã làm giao động xã hội bản xứ. Lượng cao su xuất cảng đạt hơn 10 nghìn tấn vào năm 1929 và tiếp tục gia tăng đến khi Đệ nhị Thế chiến bùng nổ. Sản lượng cao su sau đó tụt xuống chỉ còn 15% sản lượng tiền chiến và không phục hồi được cho dù có đến cuối thập niên 1940 đã đạt khoảng 60% sản lượng cao nhất.

    Năm Sản lượng Cao su (tấn)
    1939 66.556
    1940 72.245
    1941 76.069
    1942 75.178
    1943 74.734
    1944 61.361
    1945 12.000
    1946 20.295
    1947 38.560
    1948 43.000
    1949 45.000
    [22]

    Lượng nông phẩm lớn nhất của Đông Dương là lúa gạo, đạt 2.140.000 tấn xuất cảng năm 1937 với diện tích canh tác ở Nam Kỳ tăng mạnh từ 522.000 hecta năm 1880 đến 2 triệu 2 hecta năm 1937.[23]

    Những khu vực kinh tế khác được chính phủ Bảo hộ lưu ý là khoáng sản (than đá, chì, kẽm), chè, cà phê, hạt tiêu. Kỹ nghệ nhẹ như ngành dệt, thuốc lá, xi măng cũng được phát triển.

    Kỹ nghệ lớn nhất với khoảng 50.000 công nhân là ngành khai thác than đá, chủ yếu ở Hà Tu và Hòn Gai (Pháp gọi là Hongay) và Cẩm Phả của công ty "Société de Charbonnages du Tonkin". Hãng "Société de Charbonnages du Đông Triều" thì khai thác ở Kê Bào. Năm 1930 sản lượng than đá khai thác là 1.890.000 tấn, trong đó 3/4 được xuất cảng.

    Những mặt hàng được nhập khẩu chính vào Đông Dương thời kỳ này là sữa đặc, thức ăn đóng hộp, bột mì, rau, đường, cà phê, trà, thuốc lá, chỉ bông, vải bông, rượu, than, dầu lửa, đồ kim loại, dược phẩm, xà phòng, đồ gốm, đồ thủy tinh và pha lê, giấy, máy móc, xe hơi, v.v. Các mặt hàng xuất khẩu quan trọng gồm có: gạo, cá (cá khô và cá muối), tiêu, quế, dầu thực vật, gỗ tếch, sợi bông (thô), than và kẽm, lụa (thô), xi măng, thảm chiếu, da, v.v. Cán cân xuất nhập khẩu vào năm 1914 là[24]:
    Giá trị nhập khẩu (franc) Giá trị xuất khẩu (franc)
    Bắc Kỳ 96.239.000 100.260.000
    Trung Kỳ 6.364.000 11.1360.000
    Nam Kỳ 158.998.000 219.253.000
    Campuchia 4.891.000 1.686.000
    Tổng cộng 266.492.000 332.335.000

    Cơ quan điều hành kinh tế cho cả sáu xứ Đông Pháp là Ngân hàng Đông Dương (Banque de l'Indochine), thành lập từ năm 1875. Ngân hàng này có đặc quyền phát hành đồng bạc Đông Dương (piastre indochinoise).

    Chính quyền Bảo hộ còn giành độc quyền bán thuốc phiện, rượu, và muối, còn được gọi là thuế "môn bài".

    Độc quyền nấu rượu thì giao cho công ty Société des Distilleries d'Indochine phân phối cho toàn Liên bang dưới hiệu "RA" (Régie de Alcool), tục gọi là "rượu ty". Những nguồn rượu khác thì bị liệt vào hạng rượu lậu và ai nấu hay mua thì bị truy tố và tài sản tịch thu.[25] Đối với thuốc phiện thì quyền nhập cảng, chế biến và bán sỉ là do cơ quan Régie de l'Opium đảm nhận. Tính đến năm 1900 thì lợi nhuận chính phủ thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương.[26] Riêng việc phân phối bán lẻ là để cho tư nhân, đa số là người Hoa.[27]
     
  9. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Giao thông
    Ga xe lửa Mỹ Tho, 1905.
    [​IMG]

    Khánh thành tàu điện Sài Gòn-Chợ Lớn 27.12.1881
    [​IMG]

    Nỗ lực lớn nhất của nhà nước Bảo hộ là xây dựng hệ thống đường sắt. Đoạn đường sắt thiết lập trước tiên với kinh phí 11,6 triệu franc là ở Nam Kỳ, dài 71 cây số, hoàn tất Tháng Bảy năm 1885 nối liền Sài Gòn và Mỹ Tho.[28] Vào những năm 1897-1900 thì con đường sắt Hà Nội-Lạng Sơn hoàn thành ở Bắc Kỳ với giá trị chiến lược cao để củng cố vùng biên giới Việt-Hoa. Sau đó nhà nước chủ trương xây dựng một hệ thống đường sắt Xuyên Đông Dương (Chemin de fer Transindochinois) nối liền Hà Nội và Sài Gòn. Dự án này đến năm 1936 mới xây xong, chạy dài từ Nam Quan đến Mỹ Tho với chiều dài 1714 km. Đây là tiền thân của đường sắt Bắc Nam của Việt Nam sau này. Hành trình Sài Gòn - Hà Nội mất 60 giờ đồng hồ, tức hai ngày và ba đêm.[29]

    Ngoài ra còn có những nhánh đường sắt khác từ Nam Vang đến biên giới Xiêm; từ Sài Gòn đi Lộc Ninh; từ Tháp Chàm lên Đà Lạt. Riêng đoạn đường từ Hải Phòng lên Hà Nội rồi từ Hà Nội ngược sông Thao vượt biên giới Việt-Hoa sang Vân Nam thì do tư nhân hãng "Compagnie Française des Chemins de fer de l'Indochine et du Yunnan" khai thác. Tính đến năm 1939 thì toàn cõi Đông Dương có 3.372 km đường sắt.[30]

    Ở hai đô thị chính, Sài Gòn và Hà Nội chính quyền còn cho thiết lập hệ thống "tàu điện" (tramways). Tàu điện Sài Gòn khánh thành năm 1881 lúc đầu chạy bằng hơi nước và đến năm 1923 mới chính thức chạy bằng điện. Lộ trình 72 km này nối Chợ Lớn, Sài Gòn (theo đường Gallieni, sau năm 1955 là đương Trần Hưng Đạo[31]) rồi tỏa ra Hóc Môn, Gò Vấp, phục vụ đến năm 1953 mới tháo bỏ. Tàu điện Hà Nội với 29 km đường rày khởi dụng năm 1901 và mãi đến năm 1990 mới thôi.[32]

    Công trình phát triển đường sá thì có cầu Sông Cái dài hơn 1,600 m do công ty Daydé et Pillé thực hiện từ năm 1897 đến 1901 mới xong là công trình đáng kể nhất. Ngoài ra còn có những xây cất nhỏ hơn như cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã ở Thanh Hóa; cầu Trường Tiền ngang sông Hương ở Huế, v.v. Con đường thiên lý sau đó được dải nhựa dần để xe hơi có thể chạy suốt từ biên giới Việt-Hoa đến biên giới Miên-Xiêm.

    Chính phủ Pháp cũng cho thiết lập hệ thống dây thép điện tín, đoạn đầu tiên hoàn tất năm 1862 nối Sài Gòn, Biên Hòa và Chợ Lớn. Đến năm 1888 thì đường dây liên lạc Sài Gòn-Hà Nội cũng làm xong.[33]
     
  10. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    XÃ HỘI

    Dân cư

    Vào đầu thế kỷ 20, thành phần dân cư của Liên bang Đông Dương gồm có người Việt, người Campuchia, người Thái, người Chăm và các dân tộc thiểu số khác. Trong số đó, người Việt là đông nhất với 15 triệu người, kế đến là người Campuchia với 1,3 triệu người, người Thái 1,1 triệu và người Chăm 100.000, số dân tộc thiểu số ước khoảng 500.000 người. Ngoài số này, còn có khoảng 300.000 người Hoa và các dân tộc châu Á khác, 15.000 người Âu và 40.000 người Âu lai Á. Tính tổng cộng, dân số của Liên bang Đông Dương vào khoảng 18.370.000 người, mật độ trung bình 24 người trên một km2.

    Về phân bố dân cư, người Việt sống chủ yếu ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, người Campuchia sống ở Campuchia, người Thái ở Lào, người Chăm ở Nam Kỳ và một phần Campuchia; những người thuộc dân tộc thiểu số sống rải rác dọc theo vùng núi cao trong lục địa.

    Trong các sắc dân bản địa, người Việt có tổ chức xã hội cao hơn cả. Qua kinh nghiệm nhiều đời, họ đã có được những tập quán nông nghiệp phát triển, nhưng năng lực buôn bán yếu. Thương mại trên khắp Đông Dương nằm trong tay những người Hoa. Người Thái thích sống ở những vùng cao, với công việc chính là nuôi gia súc và săn bắn; họ kém văn minh hơn hẳn những người Việt. Người Campuchia thì làm các nghề về gỗ, nông, ngư nghiệp, và săn bắn[24].

    Trên pháp lý, người dân Đông Dương chia thành ba hạng. Đứng đầu là công dân Pháp (citoyens français) gồm những người Pháp và một số người bản xứ được nhập tịch. Thứ nhì là thuộc dân Pháp (sujets français) là dân Nam Kỳ và dân chúng của ba thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng và Hà Nội. Hạng ba mới là dân bảo hộ (protégés français) tức là đại đa số dân chúng Trung, Bắc Kỳ, Lào, và Cao Miên.[34]
     
  11. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Di dân

    Một hậu quả của chính sách nhà nước Bảo hộ khi hậu thuẫn việc thông thương với Trung Hoa là đà gia tăng số người Hoa nhập cảnh với nhiều ưu đãi.

    Năm Người Trung Hoa nhập cảnh Đông Dương
    1923 19.800
    1924 13.800
    1925 15.200
    1926 19.000
    1927 31.100
    1928 30.100
    [35]

    Từ tổng số 60.000 Hoa kiều vào cuối thế kỷ 19, đến năm 1921 thì số di dân người Hoa đã tăng thành 156.000 riêng ở Nam Kỳ[36] Họ nắm tài lực và tận dụng khai thác hệ thống kinh tài khắp Đông Nam Á, nhất là ngành buôn gạo. Số thương gia tên tuổi lịch sử còn ghi lại có Wang-Tai, Hui-Bon-Hoa (tục gọi là "chú Hỏa"), Quách Đàm (xây chợ Bình Tây).[37] Đến năm 1937 trong suốt ba Kỳ Trung, Nam, Bắc có 217.000 Hoa kiều, chiếm hơn 11% dân số.[38] Theo hiệp ước ký giữa Pháp và nhà Thanh năm 1885 và 1886 thì người Tàu ngụ cư ở Đông Dương hưởng quy chế ngoại nhân ưu đãi (etrangers bénéficiant d'un statut privilégié) được miễn sưu thuế, không phải bắt làm tạp dịch hay nhập ngũ lại được quyền đi lại tự do. Hơn nữa vì giữ quốc tịch Trung Hoa, quyền lợi của họ có chính phủ Bắc Kinh bênh vực.[39] Cộng đồng người Hoa tổ chức theo nguyên quán, tục gọi là bang. Vào năm 1885 thì có bảy bang ở Nam Kỳ nhưng sau đó gộp lại thành năm bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, và Hẹ.[40] Ngoài ra có khoảng 5.000 Ấn kiều. Giống như người Hoa, người Ấn đại đa số là thương nhân, cùng làm nghề cho vay nặng lãi.[41]

    Số người Âu châu đến cuối thập niên 1930 là 39.000, đa số người Pháp, nắm giữ địa vị then chốt chính trị và kinh tế trong ba ngành xuất cảng gạo, cao su, và khoáng sản.[42] Ba nhóm ngoại kiều Pháp, Hoa và Ấn tập trung ở thành thị trong khi dân bản xứ phần lớn sinh sống ở nông thôn.

    Một chính sách di dân nữa được đề ra là việc mộ dân ở Bắc và Trung Kỳ đưa vào Nam làm phu đồn điền cao su hoặc nông trại miền núi Cao nguyên Trung Kỳ hay thượng du Bắc Kỳ.[43] Riêng niên khóa 1926-27, 35.000 người dân từ Bắc và Trung Kỳ được mộ làm phu và đưa vào Nam Kỳ làm công trong các đồn điền.[44] Người Việt cũng được khuyến khích di cư sang Lào và Cao Miên.[45] Thống kê năm 1908 ghi nhận 60.000 người Việt trên đất Miên.[46]. Đến năm 1921 thì tổng số người Việt ở Cao Miên là hơn 140.000[47] và 191.000 vào năm 1937.[48] Cùng thời gian sau đó vào cuối thập niên 1930 thì số người Việt ở Lào đã tăng lên gần 40.000.[49] Một số khác được đưa sang Tân Đảo và đảo Tân Thế giới làm phu mỏ và đồn điền của Pháp.
     
  12. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Giáo dục

    Một hậu quả khác rất đáng kể của cuộc bảo hộ đối với người Việt là việc thay đổi toàn diện về học thuật. Ở Nam Kỳ ngay từ năm 1867 người Pháp đã ngưng hẳn thể chế khoa cử và đến năm 1878 thì các công văn bằng chữ Nho cũng bị loại bỏ, thay bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ.[50]
     
  13. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Cải cách năm 1908

    Đến năm 1908 thì Hội đồng Cải cách Học vụ (Conseil de Perfectionnement de l'enseignement indigène) thời Toàn quyền Beau lập Nha Giám đốc Học chính (Direction de l'Enseignement) và quy hoạch lại việc giáo dục ở Trung và Bắc Kỳ, chia thành ba bậc: ấu học, tiểu học và trung học. Ấu học thì giao cho xã thôn dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ; ai đậu thì gọi là "tuyển sinh." Tiểu học thì do phủ huyện có huấn đạo và giáo thụ đảm trách, tiếp tục dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ và có thể tình nguyện học thêm chữ Pháp chứ không bắt buộc; trung học thì do quan đốc học ở tỉnh lỵ trông coi và dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Bắt đầu từ khoa thi hương năm 1909 thì thí sinh phải biết chữ Quốc ngữ để làm bài.[51] Ở Hà Nội thì có thêm trường Bảo hộ và Huế thì có trường Hậu bổ cùng với trường Quốc học sẵn có để đào tạo thêm nhân sự.[52]
     
  14. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Cải cách năm 1915

    Năm 1915 thì Bắc Kỳ rồi năm 1918 Trung Kỳ cũng theo Nam Kỳ bỏ khoa cử để theo chương trình do Nha Học chính Đông Dương soạn ra tức bộ học luật (Code de l'instruction publique) ban hành ngày 21 Tháng 12 năm 1917.[53] Theo đó thì tiếng Pháp được đưa vào giáo trình từ bậc tiểu học. Tiểu học chia thành ba cấp:

    * sơ học (ba năm, đỗ bằng Sơ học yếu lược Certificat d'etudes primaires),
    * tiểu học (ba năm, đỗ bằng Cơ thủy Certificat d'etudes elementaires), và
    * cao đẳng tiểu học (bốn năm, đỗ bằng Cao đẳng tiểu học Diplôme d'études primaires supérieures).

    Trung học (ba năm) thì chỉ có bốn trường (lycée) đặt ở Phnôm Pênh (lycée Sisowath, 1935), Huế (lycée Khai-Dinh, 1936), Sài Gòn (lycée Petrus-Ky) và Hà Nội (lycée du Protectorat) mà thôi. Học xong hai năm thì thi lấy bằng Tú tài bản xứ.[54] Ba năm thì lấy bằng baccalauréat. Bằng baccalauréat được công nhận tương đương với bên chính quốc kể từ năm 1930.[55]

    Đại học thì có mở chỉ một cơ sở là Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội khai giảng từ năm 1907 nhưng hoạt động gián đoạn đến năm 1917 mới tái tục. Điểm đáng lưu ý là chứng chỉ do Đại học Đông Dương cấp không được công nhận là tương xứng với các trường đại học bên Pháp. Sinh viên Đông Dương muốn sang Pháp học cũng bị gây khó dễ và hạn chế.[56]

    Năm 1924 mở khóa học đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương với hai phân khoa: 1) hội họa, điêu khắc & trang trí, 2) kiến trúc.[57]

    Ở Phnôm Pênh thì người Pháp lập trường Bảo hộ từ năm 1893. Đến năm 1905 thì đổi thành Collège Sisowath.[58]

    Những cải cách của chính quyền Pháp chỉ một phần là để nâng cao kiến thức dân chúng nhưng còn có dụng ý là để chuyển hướng tư duy của đại chúng. Thay vì trông đợi vào giới sĩ phu truyền thống dẫn dắt, nay người dân thường sẽ có nhà nước Bảo hộ đào tạo kiến thức. Đối với người Việt thì nguồn tư duy đáng sợ cho chính quyền Đông Pháp là Nho học và luồng tư tưởng xâm nhập từ Trung Hoa và Nhật Bản qua các sách vở Hán văn. Đối với Miên và Lào thì tin tức từ Xiêm là mối đe dọa.[59] Vì vậy người Pháp đã dồn nhiều nỗ lực vào việc cải tổ nền giáo dục bản xứ. Một chứng cứ là sách giáo khoa thời Pháp không dùng danh từ "Việt Nam" mà chỉ nhắc đến "Đông Pháp" và các xứ lệ thuộc[60]
     
  15. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Nghiên cứu, khoa học, & kỹ thuật
    Henri Mouhot, nhà khoa học và thám hiểm Pháp ở Đông Dương.
    [​IMG]

    Chính phủ Bảo hộ cho thành lập một số cơ sở khoa học ở Đông Dương như Viện Pasteur (Institut Pasteur de Saigon, 1890 & Nha Trang, 1895)[61], Nha Địa chất (Service géologique, 1918), Viện Canh nông Thuộc địa (Institut agronomie coloniale, 1918), Viện Hải dương học (Institut océanographique, 1922).[62]

    Bác sĩ Alexandre Yersin qua Viện Pasteur đã có nhiều đóng góp về căn bệnh dịch hạch. Ông chọn sống tại Nha Trang, Trung Kỳ nơi ông tiếp tục những cuộc thí nghiệm khoa học cho đến khi mất.

    Về văn hóa và lịch sử thì có Viện Viễn Đông Bác cổ (École française d'Extrême-Orient) lập năm 1900 ở Sài Gòn để nghiên cứu, thu thập, và lưu trữ nhiều cổ vật cùng khai quật các di chỉ khảo cổ. Năm 1902 thì Viện này chuyển ra Hà Nội với chi nhánh ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Nam Vang, và Battambang.[63]

    Một trong những "khám phá" lớn nhất trong ngành khảo cổ vào thời điểm này là cuộc khai quật di tích Angkor Wat được nhà khoa học Henri Mouhot ghi lại và phổ biến đến thế giới Tây phương. Cổ hơn thì năm 1923 khai quật được di chỉ Đông Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hóa nơi khám phá ra một số trống đồng tiêu biểu cho thời đại cổ đại của người Việt.[64]

    Henri Parmentier thì có công khảo cổ trong việc nghiên cứu giải mã các cổ vật và di tích Chiêm Thành.
     
  16. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Chính trị
    Dinh Toàn quyền, Sài Gòn
    [​IMG]

    Chính trị Đông Dương thuộc thể chế thuộc địa và bảo hộ nên không có quyền tự quyết.

    Riêng ở Nam Kỳ thì có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Tuy nhiên số cử tri rất khiêm nhường. Vào khoảng thập niên 1910 thì chỉ có 1.000 cử tri người Việt,[65] tức những người được vào Pháp tịch. Số người Pháp thì có khoảng 3.000 người ghi danh đi bầu. Sau cuộc cải tổ năm 1922, đặc quyền bầu cử được nới rộng và số cử tri người Việt tăng lên khoảng 20.000, đa số thuộc giới thượng lưu Tây học.[66] Đây là thành phần cử tri bỏ phiếu trong những cuộc tuyển cử Hội đồng Quản hạt so với 2-3 triệu dân của toàn xứ Nam Kỳ.

    Về mặt thông tin ,báo chí thì chính phủ Bảo hộ áp dụng chính sách kiểm duyệt sách báo. Lệ này đến năm 1935 mới nới lỏng hơn khi Đảng Xã hội Pháp của thủ tướng Léon Blum lên chấp chính.[67]
     
  17. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Phản kháng
    Hùm Xám Yên Thế, lãnh tụ Hoàng Hoa Thám
    [​IMG]

    Những người bị bắt trong vụ án Hà thành đầu độc.
    [​IMG]

    Tượng đồng Giám mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh ở Sài Gòn.
    [​IMG]

    Chính quyền Liên bang Đông Dương dù có mang lại một số kỹ nghệ và tổ chức khoa học làm cuộc sống khá hơn về mặt vật chất nhưng chủ yếu là để tạo điều kiện cho người Pháp chứ không vì quyền lợi của dân bản xứ. Lý tưởng "Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ" ("Liberté, Égalité, Fraternité") tuy xuất xứ từ Pháp nhưng dân của sáu xứ Đông Dương không được hưởng đầy đủ những quyền lợi đó. Một thí dụ cụ thể là đạo luật hiện hành ở chính quốc như luật cấm trẻ em lao dịch thì ở Đông Pháp không áp dụng những luật pháp đó.[68]

    Chủ nghĩa dân tộc nhất là đối với người Việt cho dù bị chính quyền Bảo hộ cố vùi lấp, vẫn là tiếng gọi vang vọng. Cuộc khởi nghĩa của Đề Thám ở vùng Phú Thọ và Phúc Yên kéo dài đến năm 1913 mới bị dập tắt.[69] Trong khi đó luôn có những âm mưu đánh đuổi người Pháp như vụ Hà Thành đầu độc (1908), vụ nổ bom ở Bắc Kỳ do Việt Nam Quang phục Hội thực hiện (1913), việc vua Duy Tân bôn tẩu (1916), vụ mưu sát Toàn quyền Merlin của Tâm Tâm Xã (1924), cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng (1930) làm chính phủ Bảo hộ phải luôn tìm cách trấn áp.

    Để vô hiệu hóa sức đề kháng của dân bản xứ, chính phủ Bảo hộ thường tuyên truyền đề cao những nhân vật và sự kiện lịch sử với nước Pháp ở cương vị nhân từ, dìu dắt và bảo vệ người bản xứ như trường hợp Giám mục Bá Đa Lộc. Với cao trào đòi độc lập, chính quyền Bảo hộ còn đưa ra chính sách "Pháp Việt đề huề" để vận động đường lối hợp tác giữa người Pháp và các dân tộc Đông Dương, nhất là dân Việt.

    Ngoài việc vận động tâm lý, người Pháp còn duy trì một lực lượng quân sự để củng cố quyền lực. Lực lượng này gồm lính chính quy Pháp và quân bản xứ, thường gọi là lính tập. Đội quân này được dùng trong việc đánh dẹp cũng như canh gác, giữ trật tự xã hội theo quan niệm của nhà nước Bảo hộ.

    Vào đầu thập niên 1930 thì có khoảng 10.000 tù nhân chính trị trong các nhà tù lớn nhỏ ở Đông Dương.[70]
     
  18. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,561
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Giải thể

    Năm 1941 Quân đội Nhật Bản thời Đệ nhị Thế chiến tiếp thu Đông Dương với sự thỏa thuận của chính phủ Vichy theo thỏa ước giữa đại sứ Pháp Charles Arsènes-Henry ở Tokyo và ngoại trưởng Yōsuke Matsuoka ký hồi 30 Tháng Tám, 1940.[71][72] Theo đó thì Nhật Bản được rộng quyền điều hành quân sự trên toàn cõi Đông Dương chống lại phe Đồng Minh nhưng người Pháp vẫn duy trì bộ máy cai trị của nhà nước Bảo hộ và Nhật công nhận chủ quyền của Pháp. Thỏa hiệp giữa Pháp và Nhật kéo dài bốn năm cho đến ngày 9 Tháng Ba, 1945 thì Nhật Bản đột ngột tuyên bố trao quyền cho các chính quyền bản xứ và ra lệnh tống giam nhiều viên chức Pháp. Ngày 11 Tháng Ba, đại sứ Yokoyama Masayuki vào Đại Nội Huế yết kiến vua Bảo Đại và chứng kiến lời tuyên cáo độc lập của Đế quốc Việt Nam.[73] Ngày 13 Tháng Ba, vua Cao Miên cũng theo gương Bảo Đại rồi đến ngày 8 Tháng Tư thì quốc vương Lào cũng tuyên bố độc lập.[74] Ngày 17 Tháng Tư thì Thủ tướng Trần Trọng Kim trình diện với danh sách nội các để chấp chính nhưng đến Tháng Tám năm 1945 khi Nhật tuyên bố đầu hàng phe Đồng Minh thì Pháp xúc tiến việc tái chiếm Đông Dương và lập lại Liên bang Đông Dương.

    Ngay từ Tháng Chạp năm 1943 Charles De Gaulle, người lãnh đạo lực lượng Pháp bấy giờ lưu vong ở Algiers đã tuyên bố ý định tái lập chủ quyền của Pháp trên các xứ Đông Dương.[75] Lực lượng Việt Minh cũng ra quân đoạt chính quyền, mở đầu cho cuộc chiến tranh Đông Dương kéo dài chín năm trước khi thể chế cai trị của Pháp ở Đông Dương mới chính thức cáo chung vào năm 1954.

    Trong thời gian chín năm cuối, người Pháp có thay đổi ít nhiều cơ chế hành chánh: bỏ chức vụ "toàn quyền" và thay bằng "cao ủy" rồi "tổng ủy"; thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ hay thống sứ Bắc Kỳ thì thay bằng "ủy viên cộng hòa". Ngoài ra chính phủ Pháp cũng hứa hẹn cải tổ bằng cách mở rộng ngành giáo dục và hướng tới dân chủ tự trị trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp.[76]
     

Ủng hộ diễn đàn