Tiền tệ Việt Nam dưới thời Pháp thuộc

Chủ đề thuộc danh mục 'Tiền việt nam qua các thời kỳ' được đăng bởi youngboss1vn, 4/12/09.

  1. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,491
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Tiền tệ Việt Nam dưới thời Pháp thuộc

    Trước khi nước ta bị Pháp chinh phục tại Việt Nam đồng bạc Mễ Tây Cơ đã lưu hành rồi, nhưng chỉ ở các hải cảng vì có sự hiện diện của các thương gia Trung Quốc.Đoàn quân viễn chinh Pháp chỉ phổ biến việc sử dụng đồng bạc mà thôi vì lẽ đồng quan Pháp không được người Việt Nam chấp nhận mà đồng tiền bằng đồng và kẽm của ta thì rất cồng kềnh, trị giá quá nhỏ nên người Pháp không chịu dùng làm phương tiện thanh toán.Vả lại người Trung hoa khi giao dịch buôn bán với người Pháp thì chỉ nhìn nhận có đồng bạc Mễ Tây Cơ thôi.
    Đồng bạc Mễ Tây Cơ mang hình vẽ 1 cái cân (Piastre à balance) có kim lượng 0,9027 và nặng 27 grammes.
    Vào năm 1864, pháp định cho lưu hành đồng 5 quan để dễ thay thế đồng Mễ Tây Cơ nhưng đã thất bại, vì trên thương trường trị giá đồng 5 quan kém hơn đồng Mễ Tây Cơ, nên không ai chịu thừa nhận.
    Đồng bạc Mễ Tây Cơ trong 12 năm trường ăn 5 quan 55 quan Pháp và cho tới cuối năm 1876 thì có thêm đồng "Trade Dollar" Mỹ lưu hành và nặng 27 grammes 215 24 grammmes với 493 bạc nguyên chất.
    Vào ngày 09/03/1878, bộ tài chính Pháp cho đúc "Đồng bạc thương mại" (piastre de commerce) có chuẩn độ 900/1000 quý kim và nặng 27 grammes 215.Đồng này được chia làm trăm phần và người ta trù liệu cho phát hành những đồng 10, 20, 50 xu bằng bạc và những đồng 1 xu và đồng ăn 1/500 đồng bạc bằng đồng đen.
     
    Last edited: 5/12/09
  2. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,491
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Thiết lập Đông Dương ngân hàng

    Thiết lập Đông Dương ngân hàng

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (trước đây là Chi nhánh ngân hàng Đông Dương)


    [​IMG]

    Thiết lập tại Nam Kỳ do 1 sắc lệnh áp dụng đạo luật ngày 24/06/1874 về các ngân hàng thuộc địa, Đông Dương ngân hàng có đặc quyền phát hành tiền chung cho Nam kỳ (Cochinchine) và các nhượng địa Ấn Độ (Indefrancaise) trụ sở chính của Đông Dương ngân hàng đặt tại Paris còn tại Saigon và Pondichery thì có 2 chi nhánh.
    Vốn của Đông Dương ngân hàng là 8 triệu quan Pháp.
    Đông Dương ngân hàng có độc quyền phát hành giấy bạc, với điều kiện:
    * Ngạch số giấy bạc lưu hành không được gấp 3 lần trữ kim (encaisse métallique)
    * Ngạch số lũy tích giấy bạc du hành các chương mục vãng lai (compty courants) và các tái khoản khác của ngân hàng không được gấp quá 3 lần số vốn và dự trữ của ngân hàng.
    Giấy bạc do Đông dương ngân hàng phát hành có giá trị phát định (cours légal) và lúc khởi thủy Đông Dương Ngân Hàng cho phát hành giấy: 1000 quan, 500 quan, 100 quan, 20 quan và 5 quan.
    Đặc quyền phát hành của Đông Dương Ngân Hàng lúc đầu được ấn định trong 20 năm do sắc lệnh ngày 21/01/1875 nhưng sau đã được gia hạn nhiều lần.Sắc lệnh ngày 20/02/1880 nới rộng đặc quyền này tới Trung kỳ (Annam) Bắc kỳ (Tonkin) Cambodge (Miên) Nouvelle Calédonie.
     
    Last edited: 5/12/09
  3. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,491
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Khi Pháp tới - số phận của tiền do các nhà vua phát hành

    Khi Pháp tới - số phận của tiền do các nhà vua phát hành

    Khi Pháp tới Việt Nam, thiết lập Đông Dương ngân hàng xong rồi, người VN vẫn còn dùng nén vàng nén bạc và các đồng tiền bằng đồng và đồng kẽm, Thống đốc Nam Kỳ hồi xưa gọi là "quan Phó Soái" ấn định hối xuất của các loại tiền này đối với đồng bạc.Kể từ đó, bạc thay thế cho đồng để làm bản vị.
    Nghị định ngày 03/09/1863 ấn định:
    * 1 nén vàng nặng 1ký = 3,127 quan (franc)
    * 1 nén bạc nặng 1 ký = 200 quan (franc)
    * 1 quan tiền (ligature) = 1 quan (franc)
    Hối suất đã được ấn định như trên nhưng sau vì có nhiều sự gian trá nên đối với các nén vàng và bạc phải có chuẩn độ 910/1000 quý kim tuy nhiên chuẩn độ này cũng ít khi đạt được, nên nghị định ngày 11/07/1868 không cho Ngân khố thu thuế bằng những nén vàng hay nén bạc nữa.
    Còn những đồng tiền bằng kẽm thì hối suất cũng xuống dưới 1 quan Pháp và vì dễ bị hư nên cũng không được dùng để đóng thuế.Do đó ngày 1/1/1869 Chính phủ ra lệnh chỉ chấp nhận có đồng bạc trong việc đóng thuế.Nhưng vì thiếu tiền lẻ ( cho tới năm 1863 tiền lẻ thông dụng là đồng tiền đồng và kẽm của ta ) nên phải cắt đồng bạc Mễ Tây Cơ thành từng mảnh để tiêu dùng.
     
  4. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,491
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Đồng xu của Pháp

    Đồng xu của Pháp

    Để tránh sự bất tiện này, đồng 1 xu của Pháp (1 centime) có đục lỗ ở giữa cho giống những đồng tiền VN cũ đã dược du nhập vào Nam Kỳ, nhưng không được người VN ưa chuộng.Do đó, năm 1880, chính phủ Pháp cho đúc bằng đồng đen những đồng ăn 1/100 và 1/50 của đồng bạc, đồng thời cho đúc những đồng lẻ (monnaie divisionnaire de la piastre).Đồng bạc lúc đó ăn từ 7 đến 8 quan tiền VN và 500 đồng tiền Pháp ăn từ 4.200 đến 4.800 đồng tiền kẽm.
    Cho tới năm 1905, Pháp chỉ cho đúc có 500 đồng tiền Pháp và từ đó không còn đúc thêm nữa, vì đồng này trị giá quá lớn so với tiền kẽm nên ít thích hợp với những khoản chi tiêu nhỏ.
    Đồng tiền kẽm lần lần ... biến mất để thay vào những đồg tiền bằng đồng, có lỗ ở giữa.
     
  5. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,491
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Đồng bạc Pháp - Bằng Bạc

    Đồng bạc Pháp - Bằng Bạc

    [​IMG]
    [​IMG]

    Đồng bạc 1 đồng của Pháp được đúc vào năm 1885.Lúc đầu nhà nước Pháp chỉ đúc 50.000 đồng cho chính phủ thuộc địa và 400.000 đồng cho Đông Dương Ngân Hàng.
    Đồng bạc 1 đồng này cũng 1 giá trị phá định như đồng bạc Mễ Tây Cơ và "đồng Trade dollar américain". Còn những đồng 50, 20 và 10 xu thì đã lưu hành từ năm 1879.Suốt 20 năm sau 1885 chỉ còn có đồng bạc Pháp và đồng bạc Mễ Tây Cơ là được lưu hành.
    Đồng bạc Pháp được thịnh hành tại An Nam, Tonkin và Lào sau khi Pháp chinh phục các xứ này và cũng vì kinh tế của thuộc địa Pháp tại Viễn Đông phát triển.
    Kể từ năm 1895 chỉ có chính quyền thuộc địa mới có quyền đúc đồng bạc, còn Đông Dương ngân hàng muốn đúc tiền thì phải xin phép Phủ Toàn Quyền.
     
  6. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,491
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Giá trị của đồng bạc Pháp

    Giá trị của đồng bạc Pháp

    Đồng bạc Pháp lúc đầu ăn 5 quan 55 quan Pháp (1862) sau vì giá bạc kim loại sụt giả nên qua năm 1886 (đúng là ngày 1/1/1886) chỉ ăn 4 quan 2 Pháp; năm 1890 ăn 3 quan 90 Pháp; năm 1897 ăn 20 quan 70 Pháp và tới tháng 11 năm 1902 tụt xuống còn 1 quan 92.
    Sự mất giá của BẠC so với VÀNG làm cho giá cả gia tăng tại các nước áp dụng bản vị BẠC.Tại Việt Nam tình hình kinh tế ngày càng bi đát nên cấp thời phải cải tổ lại chế độ tiền tệ như sau (sắc lệnh ngày 03/12/19020 và kế tiếp:
    * Đông Dương ngân hàng thỏa hiệp với chính phủ thuộc địa là không cho lưu hành trở lại đồng bạc Mễ Tây Cơ
    * Nhà đúc tiền Paris nhận đặt đúc nhiều đồng bạc Pháp: riêng năm 1903 đã có 10.200.000 đồng - cấm xuất cảng những đồng bạc thương mại và những thoi bạc (nghị định ngày 30/01/1905)

    1 PIASTRE SILVER 1903 (loại 27 GR): INDOCHINE
    [​IMG]
    [​IMG]

    * Từ 1/1/1906 đồng bạc "Eagle" Mễ Tây Cơ không còn giá trị pháp định nữa.( nghị định ngày 03/10/1905)
    Những cải cách trên nhằm:
    a/ Giữ bạc làm bản vị vì phần lớn ngoại thương của Đông Dương thực hiện với các nước lấy bạc làm bản vị như Trung Quốc, Nhật và Ấn Độ.
    b/ Giảm khối tiền tệ lưu hành tại Đông Dương và như vậy ngăn chặn sự mất giá của tiền này.
    c/ Cụ thể là củng cố chủ quyền của nước Pháp tại Đông Dương trên địa hạt tiền tệ.
    ĐỒNG BẠC - bản vịc của nó là BẠC lúc đầu.
    Theo những biện pháp ban hành năm 1903 và năm 1905 chế độ tiền tệ không phải là kim bản vị, mặc dầu đồn bạc vẫn giữ được quyền giải trái vô giới hạn.Chế độ thật sự có những đặc điểm như sau:
    a/ Tiền bằng bạc và tiền bằng giấy có thể đổi lấy tiền bạc được phép lưu hành trong nội địa.
    b/ Bạc bị cấm xuất cảng ra ngoại quốc.
    Theo giá chính thức đồng bạc Đông Dương ăn 2 quan 40 vào tháng 7 & 8 năm 1914, 2 quan 80 vào tháng 7 năm 1916 v2 4 quan 30 vào tháng 2 na9m 1919.
    Như vậy từ năm 1914 cho đến năm 1919 đồng bạc ăn 5 quan và tiếp tục tăng đều đều tới 7 và 9 quan trong năm 1923.
     
    Last edited: 5/12/09
  7. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,491
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Ảnh hưởng của sự tăng giá đồng bạc

    Ảnh hưởng của sự tăng giá đồng bạc
    Sự tăng giá của đồng bạc Đông Dương làm tăng số lời của các nhà sản xuất cảng nên đã đem lại sự phồn thịnh cho Đông Dương trong những năm 1918 đến năm 1922.

    1 PIASTRE SILVER 1922 (loại 27 GR - KHÔNG H): INDOCHINE
    [​IMG]

    1 PIASTRE SILVER 1922 (loại 27 GR - CÓ H): INDOCHINE
    [​IMG]

    Về phần Đông Dương ngân hàng thì điểm lợi là thu hồi trong những nghiệp vụ hối đoái.Như vào năm 1921 trong số 80 triệu quan tiền lời của Ngân hàng, 1 phần lớn đã do các nghiệp vụ hối đoái đem lại, nhờ ở sự thăng trầm của giá bạc, kim loại và giá đồng tiền bạc, mặt khác nhờ ở đặc quyền phát hành đồng bạc của Đông Dương ngân hàng.Nhưng sự thăng trầm của giá bạc đã gây ra sự bất ổn về hối đoái khiến các thương gia phải chi phí thêm về bảo hiểm hối đoái.
    Sự bất ổn này còn làm cho tư bản ngoại quốc không dám nhập nội và khuyến khích sự đào tẩu tư bản ra ngoại quốc.Do đó, ĐÔNG DƯƠNG LÂM VÀO CẢNH THIẾU PHƯƠNG TIỆN TÀI CHÍNH để khai thác tài nguyên và canh tân dụng cụ sản xuất.
     
    Last edited: 5/12/09
  8. youngboss1vn

    youngboss1vn Admin

    Tham gia:
    29/8/09
    Số bài viết:
    11,491
    Số lần "Thích" đã nhận:
    1
    Điểm nhận Cup:
    38
    Đồng bạc Đông Dương (1930)

    Trước năm 1930, đồng tiền chung cho Việt Nam, Miên và Lào căn cứ vào BẠC.Người ta gọi đó là đồng bạc Đông Dương.
    Một đạo sắc lệnh ngày 31/5/1930 của chính phủ Pháp cải chính chế độ ấy và ấn định đồng bạc là Org 655 (655 ly) VÀNG, tuổi 0.900.Từ đây dồng tiền Đông Dương là 1 ĐỒNG VÀNG, tuy rằng người ta vẫn gọi nó là đồng bạc như xưa.
    Nhưng tháng 10 năm 1936 chính phủ Pháp lại sử đổi sắc lệnh 31/5/1930 mà định lại rằng MỖI ĐỒNG BẠC là 10 PHẬT LĂNG (Pháp).
    Như vậy đồng bạc không trực tiếp căn cứ vào VÀNG nữa mà thành 1 đồng tiền phụ thuộc biến chuyển theo đồng Phật lăng (Pháp)

    1 PIASTRE SILVER 1931: INDOCHINE
    [​IMG]
    [​IMG]

    Từ năm 1930 đến tháng 3 năm 1940 đồng phật lăng (Pháp) đã từ 65 ly 5 xuống còn 23 ly 34, VÀNG (tuổi 0.900) như vậy vào tháng 03 năm 1940 đồng bạc chỉ còn là 233 ly 4 vàng tuổi 0.900, so với năm 1930 KIM LƯƠNG CHỈ CÒN HƠN 35 PHẦN 100!
    Đồng bạc bị mất giá.

    (Sưu Tầm tin tức)
     
    Last edited: 28/4/10

Ủng hộ diễn đàn